Tính độc lập của kinh tế vĩ mô

Các doanh nghiệp (E) muốn sản xuất được thì phải thuê nhân công và trả lương (W) cho họ. Do đó chung minh tai chinh các doanh nghiệp phải vay tín dụng từ hệ thống ngân hàng theo một lãi suất nhất định. Khoản tín dụng này sẽ tạo ra tiền làm cơ sở cho đầu tư (I). Thông qua tiêu dùng, các hộ gia đình hoàn trả lại tiền cho các doanh nghiệp mà các hộ gia đình nhận được dưới dạng tiền lương, cho phép các doanh nghiệp trả tín dụng vay ban đầu. Phần còn lại, các hộ dich vu bao cao tai chinh cuoi nambao cao tai chinh cuoi nam gia đình có tiền tiết kiệm để đầu tư. Do đó các doanh nghiệp phải thu hồi (phải nắm bắt) lấy khoản tiết kiệm này (S) bằng cách phát hành trái phiếu và các cổ phiếu. Nếu không làm như vậy, các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ không còn được các ngân hàng cho vay tiền bởi giới ngân hàng sẽ cho rằng doanh nghiệp không còn khả năng chi trả. 

Những người theo thuyết tân cổ điển và những người theo thuyết kinh tế Keynes

Thuyết cân bằng kinh tế vĩ mô được các nhà tân cổ điển phát triển, còn vòng luân chuyển kinh tế vĩ mô được phát triển bởi những người theo thuyết Keynes. Họ đối lập nhau trên quan điểm về khả năng khủng hoảng kinh tế. Các nhà kinh tế tân cổ điển chia sẻ quan điểm cho rằng khủng hoảng chỉ xảy ra ở bên ngoài hệ thống kinh tế, nó không có bất kỳ một quy luật kỹ thuật kinh tế nào. Do đó những ngưòi theo thuyết tân cổ điển cũng là người theo thuyết trọng tiền. Theo họ thì những thay đổi của khối lượng tiền tệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những thay đổi của thu nhập quốc dân. Trong thòi kỳ dài hạn, giữa thất nghiệp và lạm phát không có tác động lẫn nhau (không có quan hệ với nhau) và chính sách tiền tệ tốt nhất lúc đó là làm cân bằng tiền tệ (làm trung hoà lượng tiền). 

Ngược lại những người theo thuyết Keynes lại muốn điều khiển bằng ‘bàn tay tiền tệ’, đồng thcd để khởi động lại cầu trong tình trạng dư thừa nhân công bởi vì theo họ đấy là nguy cơ khủng hoảng. Hệ thống kinh tế, trên thực tế không được điều tiết bằng các quy luật mà bằng các quy định có tính tương hợp, chẳng hạn khi cơ cấu chi phí không thích hợp với cơ cấu của sản xuất. Chi tiêu công cộng sẽ cho phép giải quyết việc làm cho tất cả mọi người và trong thòi kỳ dài hạn giữa thất nghiệp và lạm phát luôn có quan hệ vối nhau. Gần đây, thực tế trong cuộc khủng hoảng những năm 1970, thất nghiệp và lạm phát đã thường xuyên cùng tồn tại, khiến người ta phải đi đến kết luận thất nghiệp là do tính cứng nhắc của giá cả. John Maynard Keynes: Bản thân theo chủ nghĩa triết chung (là giáo sự đại học Cambridge, cố vấn cho hoàng tử, ông dam mê thơ ca trung đại, là ngưòi khỏi xướng sân khấu).

Năm 1936 John Maynard Keynes (1883 – 1946) cho xuất bản cuốn sách Lý thuyết tổng quan về việc làm, lợi nhuận và tiền tệ. Cuốn sách này mãi đến năm 1942 mói được công bố ở Pháp. Trong cuốn này ông đẫ chỉ khả năng thất nghiệp kéo dài và ông cũng đưa ra biện pháp bằng cách tái khởi động cầu nhờ vào một phân tích vĩ mô kinh tế về cầu chứ không phải về cung. Paul Anthony Samuelson : Sinh năm 1915, ông từng là giáo sư nổi tiếng, năm 1970 ông được trao tặng giải thưởng Nobel với tác phẩm “Kinh tể’ của mình xuất bản năm 1948. Theo trường phái tân cổ điển, ông có cống hiến cho nhiều khám phá trong đó có “máy dao động” là sự kết họp giữa số nhân và gia tốc.

Bạn là người đang có nhu cầu về Cẩm nang vậy hãy truy cập website của chúng tôi http://donuongbbq.com để có thông tin hữu ích nhé !

Leave a Reply